Thứ hai, ngày 05/05/2014 09:48:34 GMT+7

Một kỷ niệm !

Cuối tháng 10/2010; Tôi đi thực tế tại bản Cựp, xã Húc Nghì, huyện Dakrong, tỉnh Quảng Trị. Xuống xe ô tô gần cầu Dakrong (đi Lao Bảo), rồi một cậu Trưởng thôn chạy xe gắn máy ra đón. Rẽ theo đường Hồ Chí Minh khoảng 40 km, rẽ tiếp để đi đến bản Cựp.

Đường vào bản Cựp là đường đất đỏ và sỏi đá. Đất đỏ vào mùa mưa dính chặt lấy chân người đi đường và sỏi đá vướng víu cản trở lối đi. Tôi đến bản Cựp vào đúng thời gian có mưa, trước đó mưa đã được một tuần và trong suốt mấy ngày ở lại bản thì ngày nào cũng mưa, trời xám xịt và gió quất mưa ào ạt. Đường đi vô cùng vất vả ! Cứ ngồi lên xe máy đi được vài chục mét lại xuống đi bộ, lên dốc xuống dốc. Ngồi xe máy mà đau hết cả cổ và tay vì cứ gồng người lên. Khổ hơn đi bộ !

 

   

    Bản có hơn 60 nóc nhà của đồng bào người Vân Kiều. Bản chưa có điện để sinh hoạt. Sóng điện thoại cũng không. Trưởng thôn phải buộc điện thoại treo lủng lẳng trên cây, trước cửa nhà rồi thỉnh thoảng chạy ra ngó, thấy chớp chớp là có người gọi.

   - “ Như thế em mới nắm được thông tin để nói chuyện với bà con”.

   Cuộc sống rất thiếu thốn và vất vả. Trẻ em cởi trần hoặc không mặc quần phong phanh trong thời tiết mưa rét.

Đặc điểm ngôi nhà của người Vân Kiều là cửa chính ở đầu hồi, phần ngoài dùng tiếp khách, kế đó là phần bếp rồi khu sinh hoạt linh tinh của gia đình, phía đầu bên kia trổ ra một cửa nữa, thường là nơi để thùng đựng nước ăn và những vật dụng linh tinh khác. Căn nhà cứ thông thống, thẳng tuột như vậy.

Nhà có khách, gia chủ là phụ nữ nếu muốn thay áo váy thì cứ quây một tấm vải rồi lùng bùng ở trong đó, thế là cũng xong.

Không có một nhà vệ sinh nào ! Tất cả già, trẻ, lớn, bé cứ ra dòng suối. Tắm cũng vậy. Mặc dù trong bản có hai bể nước được xây cẩn thận của Nhà nước trang bị, nhưng chỉ dùng để làm nước ăn, còn tắm giặt cứ ra suối cho thỏa thích.

Mấy ngày ở đó, Tôi cũng như dân bản. Một tay cầm ô che và tay kia lóng ngóng kỳ cọ, cứ loay hoay mãi. May mà dòng suối thấp hẳn với cảnh vật xung quanh nên cũng không khó khăn lắm.

Đất mênh mông tứ bề nhưng không trồng bất cứ một loại rau nào. Họa hoằn lắm mới có một vài cây lớn lớn một chút, là cây dại

         - “Tại sao mình không trồng rau ở xung quanh đây, em ?”

         - “Trồng ở đây gia súc ăn hết !”

         - “ Tại sao không quây vào ?”

         - “!!!”

         - “Thế rau ăn lấy ở đâu ?”

         - “Trồng ở quả núi đằng kia, phải đi qua suối”.

         - “Nếu mùa lũ làm sao qua suối được ? Nhịn ăn rau à ?”

         -“Vâng !”

         - “???”

Trời mưa lây rây hết ngày này sang ngày khác. Nền đất cứng như thế mà nhão nhoét ra, rồi trộn với phân gà, phân ngan, phân chó, phân lợn, phân dê tạo nên một thứ bột gớm ghiếc !

   Trường học của bản là một gian nhà dài, được ngăn đôi thành hai lớp học bởi một tấm phên đã thủng tan hoang. Bên này giảng bài hơi lớn là bên kia nghe thấy hết. Xung quanh ghép cũng bằng những tấm phên và tấm tôn cao đến ngực các em. Mấy hôm trời mưa suốt, vì không có điện cho nên cả thầy và trò cứ dán mắt xuống tận quyển sách mới đọc được ! Có những buổi học, một cô giáo phải chạy đi chạy lại giữa hai lớp vì thiếu giáo viên.

   Tôi gặp lại một trong những hình ảnh của thời chiến, ngày Tôi còn bé tý, đó là cái kẻng làm bằng vỏ quả bom, treo lủng lẳng trên hai cây gỗ để dùng báo hiệu giờ giấc.

   Một căn nhà xây giản dị được ngăn ra làm hai, một bên cho các thầy giáo và bên kia dành cho các cô giáo. Còn cái bếp thì ngộ nghĩnh lắm ! Ngồi nấu cơm có thể cứ cắm mặt xuống dưới chân mình mà nói chuyện với người nào đó đang đứng bên dưới bếp.

   Bốn cô giáo là người vùng xuôi. Còn rất trẻ và yêu nghề, yêu các em. Có cô còn hai con nhỏ ở nhà nhưng vẫn ở lại thêm để dạy các em. Các cô phải đi bộ từ ngoài đường Hồ Chí Minh vào đến trường là chuyện thường. Cứ lầm lũi một thân con gái như vậy ! Ở đây, cô giáo đúng như mẹ hiền. Học sinh khi đến lớp thì quần xắn ống thấp ống cao, mặt mũi lem luốc bẩn thỉu, lúc tan trường thì sáng sủa sạch sẽ. Trước khi tan lớp, các em cùng vỗ tay và hát bài hát rất tình cảm về tình thầy trò rồi mới chia tay cô giáo. Ngày nào cũng như vậy.

   Tôi thật sự xúc động !

 

  

    Chỉ duy nhất có một thầy giáo, là người con của bản làng. Thầy Hồ Tiến, đã dạy học được 18 năm, từ khi còn chưa có một giáo viên người Kinh nào đến được vùng này. Thầy dạy học theo chủ trương “Người biết chữ dạy người chưa biết chữ” và bản thân thầy cũng chỉ học hết cấp 2. Hầu hết những người lớn trong bản hiện tại là học sinh của thầy.

   Các cô giáo thường được những người dân trong bản giúp đỡ, từng thanh củi, mớ rau rừng, đôi khi những con cá suối bé tí hay vài cân gạo. Vì đường xá quá xa xôi và vất vả nên thường gạo theo tiêu chuẩn của các cô đến nơi thì trả lại cho dân bản là vừa, rồi lại vay dân bản để ăn trước.

Trước ngày chia tay, Tôi nói với Trưởng thôn:

         - Ở đây có ai bán lợn không ? Tôi muốn mua một con loại nhỏ.

         - Cũng khó ! Họ đang nuôi thành một đàn, nhưng em sẽ nói giúp anh.

    Hai anh em dắt nhau đi hỏi mua lợn. May mắn khi vào một nhà dân thấy một đàn lợn con, khoảng gần 20 kg một con đang lốc nhốc trong sân. Sau khi nghe hai anh em trình bày, chủ nhà vui vẻ cân một con.

Thế là đi mời khách, hầu hết các gia đình có người đại diện, riêng các thầy cô bên lớp học được ưu ái mời hết.

Bữa ăn tối chia tay có rượu cần, có chụp ảnh, rất vui vẻ và tình nghĩa !

Chia tay !

Sáng hôm sau vẫn mưa, dòng suối chảy quấn quýt ngang bắp chân.

Trước khi xuất phát, Trưởng thôn mua cho Tôi đôi dép quai hậu bằng nhựa, mầu nâu mà tôi thường thấy hồi còn cơ chế bao cấp. Đi dép này để chống bùn lầy, thế nhưng nhiều lần bàn chân cứ chết dí tại chỗ, lại cúi xuống loay hoay rút lên, đi tiếp. Gần ra đến đường quốc lộ hai anh em vào nghỉ tại nhà một người bạn của Trưởng thôn. Sà vào bếp khói nghi ngút giữa gian nhà sưởi ấm, nồi rau chuối kho xiêu vẹo sôi lạch đạch trên cái kiềng nghiêng ngả.

Thế là hai anh em đội mưa đi hơn 10 km đường rừng và tiếp tục đi 40 km đường nhựa để ra cầu Dakrong. Chui vào một quán nhỏ ven đường thay hết quần áo rồi gọi phở ăn.

    Sau đó đợi lên xe ô tô !

    Mấy hôm tôi ở đấy còn thấy dân bản đi ra ngoài đường quốc lộ lĩnh gạo. Gạo của Nhà nước trợ cấp, mỗi nhân khẩu khoảng gần 10kg. Nên mỗi gia đình có một người đi nhận, chủ yếu là đi bộ, 20km đường rừng cả đi và về, dưới trời mưa tầm tã.

Kỷ niệm một chuyến đi và những bức ảnh đã chụp được. Những bức ảnh chụp giữa thầy và trò của một bản làng Vân Kiều xa xôi và đầy khó khăn vất vả ! Những người thầy còn rất trẻ nhưng đầy tâm huyết và nghị lực đã và đang mang ánh sáng văn hóa và tình cảm vô bờ đến với các em !

                                                                                - NSNA Hoàng Ngọc Thạch -

BÌNH LUẬN

 

Hatuongchi

(07/05/2014 01:04)

Bài viết hay ,cảm nhận sâu sắc . Tác giả là người có tâm với nghề , có sự đồng cảm với con người tại vùng đất nghèo khó và vất vả Vân kiều .

Janisa

(17/10/2016 12:10)

Your answer shows real inglelitence.

 

Sự lãng mạn trong Tình yêu của thời chiến.

Nhiếp ảnh gia Alfred Eisenstaedt đã ghi lại những hình ảnh chia tay đầy lãng mạn của các cô gái tiễn chồng, người yêu ra chiến trường tại ga Pennsylvania (New York, Mỹ) vào dịp Valentine năm 1943.

Tràng An được công nhận di sản thế giới !

Tại phiên họp UNESCO ở Doha, thủ đô Qatar vào lúc 11h57 (tức 15h57 phút giờ Việt Nam) ngày 23/6, Tràng An (Ninh Bình) đã được công nhận là di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới.

21 Nghệ sĩ Nhiếp ảnh Việt Nam được phong tước hiệu FIAP năm 2014.

Được sự phê chuẩn của Ban lãnh đạo Liên đoàn Nghệ thuật Nhiếp ảnh quốc tế (FIAP), ngày 03/06/2014 ông Freddy Van Gilbergen - Trưởng Ban Thi đua - Khen thưởng - Tước hiệu của FIAP đã ký quyết định phong tặng các tước hiệu FIAP cho các NSNA.

Nhiếp ảnh gia hy sinh mạng sống vì nghệ thuật.

Jacob Cockle, 28 tuổi là một nhiếp ảnh gia mạo hiểm và anh luôn cố gắng mang đến những bức ảnh về những trải nghiệm kinh hoàng cho người xem.

Tuyên bố của Hội Nghệ sĩ Nhiếp ảnh Việt Nam về vấn đề biển Đông !

Trước việc Trung Quốc ngày càng có những hành động leo thang tại vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam, xâm phạm chủ quyền lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc.

Gallery | Contact